(TNO) Chiều 15.10.2011, gần 300 lao động nhặt rác tại bãi rác Khánh Sơn, P.Hòa Khánh Nam đã có buổi đối thoại với ông Phan Văn Tâm, Bí thư Quận ủy Liên Chiểu (TP Đà Nẵng) nhằm kiến nghị giải quyết các nguyện vọng chuyển đổi ngành nghề.

Theo UBND P.Hòa Khánh Nam, bãi rác Khánh Sơn ra đời năm 2001, chuyển sang vị trí mới năm 2007 và hiện có 294 người nhặt rác trú tại Q.Liên Chiểu, trong đó 66% là nữ giới.

UBND TP Đà Nẵng đã quyết định không cho người dân vào nhặt rác từ ngày 1.1.2009 nhưng theo người dân, bãi rác Khánh Sơn là nguồn thu nhập chính bởi địa phương không còn đất sản xuất nông, lâm nghiệp nên họ vẫn tiếp tục nhặt rác lén lút.

Người LĐ mong muốn chuyển đổi ngành nghề - ảnh- N.Tú- Đà Nẵng

Nếu tính người của các địa phương khác, bãi rác Khánh Sơn lúc cao điểm có đến gần 500 lao động nhặt rác.

Chị Hồ Thị Hiệp, tổ 2 Khánh Sơn cho biết, nếu như cấm nhặt rác ở Khánh Sơn, gia đình sẽ không có tiền cho con ăn học và chị đại diện cho người lao động kiến nghị được tạo việc làm khác.

Hỗ trợ tiền và BHLĐ - Đà Nẵng

Ông Phan Văn Tâm cho biết, trước mắt gần 300 người nhặt rác sẽ được đưa đi khám sức khỏe, mua Bảo hiểm Y tế năm 2012, hỗ trợ 100.000 đồng/người, trang bị ủng, găng tay, khẩu trang bảo hộ lao động và tiếp tục tặng áo mưa, lương thực cho bà con ăn Tết Nguyên đán.

Về lâu dài, Q.Liên Chiểu sẽ hỗ trợ chuyển đổi nghề theo nhu cầu của người dân như bố trí buôn bán tại chợ Hòa Khánh Nam, hỗ trợ hộ gia đình sản xuất nhỏ lẻ, hỗ trợ xóa nhà dột nát cho các hộ chính sách, hộ nghèo.

Đồng thời, học sinh, sinh viên trong gia đình người lao động bãi rác cũng sẽ được miễn học phí hoặc tài trợ học Đại học, Cao đẳng, học nghề và bố trí việc làm.

Đối với những trường hợp đặc biệt khó khăn, Bí thư Quận ủy Liên Chiểu sẽ đến tận nhà để tìm hiểu hoàn cảnh cụ thể để tháo gỡ.

Nguyễn Tú

Báo Thanh Niên Online ngày 25/10/2011

Mưu sinh xứ người

Posted: Tháng Mười Một 5, 2011 in Tin của NTGR

( Báo Bình Định) Trong một dịp ghé thành phố biển Nha Trang thuộc tỉnh Khánh Hòa, tôi tình cờ gặp rất nhiều phụ nữ đồng hương Bình Định đang mưu sinh tại đây bằng nghề ve chai. Những câu chuyện thân tình của các chị đã để lại trong tôi những cảm xúc không phai. Những câu chuyện ấy đã phản ảnh đến tận cùng cái phẩm chất “chịu thương chịu khó” của người phụ nữ Bình Định.

Giữa muôn ánh điện màu của thành phố biển Nha Trang về đêm, giữa muôn sắc màu tươi trẻ của các cô gái phố biển, bên vỉa hè rộng ở góc đường Tháp Bà, tôi đã gặp những người phụ nữ đáng yêu và rất đáng trân trọng ấy. Họ đang lam lũ trên con đường mưu sinh bằng một cái nghề gọi là “nghề ve chai”! Không chỉ vài người, mà có đến hàng trăm người. Mười chín giờ tối, cái giờ mà các cô gái thị thành đã “lên khuôn” để làm chuyến dạo phố đêm cùng chồng con hoặc người yêu thì các chị đang “lui cui” bên những bếp lửa đặt khắp vỉa hè giữa thành phố gió lộng để bắt đầu cho mình bữa cơm đạm bạc sau một ngày ruổi rong cùng đôi quang gánh trên vai. Những gương mặt hốc hác, những tấm lưng áo đẫm cứng mồ hôi mà sao tôi nghe trong câu chuyện của các chị đầy ắp niềm vui. Các chị vui vì Nha Trang đang trên đà xây dựng mạnh, nhiều công trình cũ đập dỡ ra đã cung cấp cho quang gánh của các chị rất nhiều loại phế liệu. Quang gánh càng nặng, mồ hôi càng đẫm thì niềm vui của các chị càng đầy. Góc hè rộng là thế mà chỉ đủ chỗ cho vài gánh hàng soạn ra phân loại để cân cho chủ vựa. Một trật tự được thiết lập trong hoạt động của các chị là: ai về trước cân trước, được nghỉ ngơi trước! Các chị mang về đây muôn thứ được xem là rác rưởi của thành phố: giấy vụn, vỏ lon, hàng chục loại chai lọ từ nhựa đến thủy tinh, đồng, sắt, nhôm… Mồ hôi của các chị được tính bằng tiền có mệnh giá trăm đồng. Trong muôn thứ “hùm bà lằn” vừa gom được, các chị tỉ mỉ ngồi lựa ra từng loại riêng biệt để cân bán, bởi mỗi loại có giá khác nhau. Ví dụ: lon sữa bò thì chỉ có 500đ/kg (phải được đập bẹp) nhưng vỏ lon “Bò húc” thì có giá cao hơn vì ở 2 đầu lon có nhôm. Hoặc như giấy báo cũ dùng tái sinh sản xuất thùng mì tôm thì chỉ có 1.000đ/kg nhưng giấy vở học trò thì đắt gấp 2 lần… Cứ thế, một góc hè rộng rộn ràng cả đêm. Người về sau cùng thì thường đến nửa đêm mới được nghỉ ngơi.

Hầu hết các chị ở trọ ngay tại vựa chủ vì vựa thu mua nào cũng có cơ sở rất rộng để chứa hàng, số khác ở thuê nhà trọ. Những chị được ở lại nhà chủ không phải tốn tiền nhà trọ thì giá cân hàng sẽ thấp hơn các chị kia (cũng thế thôi!). Ngã lưng một chút, đến 5 giờ sáng các chị lại tiếp tục một ngày ruổi rong. Những chuyến đi hằng ngày của các chị nghe thật “mướt mồ hôi”: đi về gần 50km/ngày với một quang gánh nặng từ 30kg trở lên! Hôm nào mua được nhiều hàng, trưa phải quay về vựa cân rồi tiếp tục đi, tối về! Trừ những hôm “quá tải” các chị mới chịu thuê xe chở hàng về, còn nặng mà ráng được thì các chị cứ gánh. Bởi mua bán chắt chiu từng trăm đồng lẻ mà mất chục ngàn thuê xe thì là một “phí phạm” lớn! Những chuyến đi của các chị kéo dài đến 4-5 tháng mới về thăm nhà một lần. Thành quả của những giọt mồ hôi trong chuyến đi được trang trải vào chi phí học hành cho những đứa con, chuyện ơn nghĩa xóm giềng, chuyện phân bón đầu tư cho ruộng vườn… Rồi lại đi! Có gia đình đi cả vài ba chị em, vài ba mẹ con. Có những cháu gái còn ngây thơ, tối gánh hàng về để mẹ lựa cân còn các cháu thì tranh thủ “mượn” vỉa hè bên cạnh chơi cầu lông. Có người đã gần lắm cái tuổi “cổ lai hy” như mẹ Cường nhưng lại được xem là người đi “dẻo” nhất đoàn. Tôi hỏi mẹ nhờ vào đâu mà có được sức bền đến như vậy, mẹ Cường nói: “”Nhờ” vào gia đình tôi có nhiều mối lo mà trăm sự đều trông cả vào gánh ve chai nên tôi phải cố gắng. Mấy đứa con gái ra phố thấy người đẹp nhà sang còn nhìn ngang liếc dọc chứ tôi thì không, cứ cắm cúi đi, mỗi bước 1 tiếng rao…”. Lời rao của nghề này nghe tha thiết lắm. Cái chất giọng miền Trung luyến láy khiến câu rao đơn giản “Ai có ve chai bán – mua…” nghe đẹp như một câu dân ca. Mẹ Cường đã chiều lòng tò mò của tôi mà ngồi cất giọng rao nhiều lần trên vỉa hè. Tôi nghe và cảm được trong ấy có cả sự lam lũ, sự chịu đựng, sự hy sinh!

Mẹ Cường tiếp thêm chuyện: “Gần 100 người ở đây hầu hết là dân của 2 xã Cát Thắng và Cát Hưng (Phù Cát). Còn dân các huyện khác vào đây lập thành từng đoàn riêng ở rải rác khắp thành phố này. Tại Nha Trang có khoảng 20 vựa thu mua ve chai, mỗi vựa phải có đến 40 “bạn hàng”, tính cho hết thì tại Nha Trang đang có khoảng gần 1.000 phụ nữ từ những vùng quê Bình Định vào mua rong nghề ve chai. Đó là chỉ nói ở đây, số người kéo nhau lên Tây Nguyên và vào miền Nam hành nghề ve chai còn đông hơn nhiều…”. Cô bé xinh xắn tên Nghi góp chuyện: “Vui gì cái “đời nhôm nhựa” của bọn em mà anh tìm hiểu kỹ dữ vậy?”! Tôi cười và nhìn em khâm phục, bởi trước đó tôi đã được mẹ Cường kể cho nghe chuyện về em. Nghi là cô bé lanh lợi nhất trong đoàn. Ngoài việc đi mua rong mỗi ngày, đêm về Nghi còn “thầu” lại của những người trong đoàn các loại chai nước rửa chén Mỹ Hảo để cung cấp cho cơ sở sản xuất. Riêng việc này mỗi ngày cho thêm Nghi một khoản lãi kha khá. Quê Nghi ở Phù Cát, có chồng ở thị trấn Bình Định (An Nhơn). Gánh ve chai của Nghi đã nuôi chồng ăn học lấy được bằng lái xe khách và trở thành một tài xế. “Mảnh đời nhôm nhựa” của em đã rất hữu ích trong bước đầu xây dựng đời sống ổn định của một cặp vợ chồng trẻ. Nghi cho biết thêm: mức thu nhập hằng ngày của các chị cũng khá xứng đáng với nhọc nhằn bỏ ra. Người đi giỏi bình quân kiếm được 1 triệu đồng/tháng, kém lắm cũng được từ 500 đến 700 ngàn đồng/tháng. Những ai thường “trúng quả” đậm từ các công trường đang xây dựng thì chắc mẫm kiếm được từ 1,5 triệu đến 2 triệu đồng/tháng. Một khoản thu nhập “trong mơ” của những người nông dân!

Thầm nghĩ: nghề ve chai nghe có vẻ “lấm láp” thật, nhưng không có gì phải mặc cảm nhiều như lời của cô bé tên Nghi. Bởi một thực tế cho thấy ở nhiều vùng nông thôn là “những mảnh đời nhôm nhựa” ngoài việc lo toan cho đời sống hằng ngày, còn xây được nhà khang trang, sắm xe máy cho gia đình mình, một thành quả không dễ gì có được!

. Vũ Đình Thung

Người gom góp lo âu

Posted: Tháng Mười Một 5, 2011 in Câu chuyện hay

(Dân trí) – Ở một khu làng sầm uất, vào lúc nào đó trong ngày những người thu nhặt phế liệu thường chọn khu bãi bất kỳ có cây cối bao quanh làm nơi tụ tập…

Những người này sống nhờ vào việc thu gom rác thải, họ phát hiện ra rằng, khi người ta đã chán ngấy đủ loại đồ phế liệu thì những thứ ấy lại có thể bán được ra tiền.

Còn những người trong làng thì lại cho rằng, nếu cái gì có thể bán được thì cũng có nghĩa là đáng bỏ tiền ra mua. Và mặc dù suy nghĩ đó dường như hơi kỳ cục nhưng rõ ràng lại rất phù hợp với công việc của người những thu lượm rác thải.

 Anh đồng nát kia thì có khá nhiều chai thuỷ tinh. Ai cũng phải chú ý tới anh chàng này khi anh ta treo một số chai lên cây và lấy đũa gõ vào chúng theo một giai điệu nào đó.

Chị đồng nát nọ lại có một đống tướng những đôi giày ngoại cỡ. Chị ta thường bình phẩm về cỡ giày cũng như các kiểu dáng chân kỳ cục đã từng đi chúng và bảo, sớm muộn gì cũng sẽ có người đi vừa những đôi giày của chị.

 Ngoài hai anh chị đồng nát, còn có những người thu mua nồi niêu xoong chảo, mua tem, sách cũ, gậy đánh gôn, mũ nón, truyện tranh và các tấm thiệp thể thao. Nói tóm lại là có đủ loại các nhà thu mua phế liệu tại đây.

 Ngày nọ có một người đàn ông lớn tuổi cuốc bộ vào làng, ông hỏi thăm tới chỗ những người mua đồng nát thường hay tụ tập. Ông vác một túi lớn nhưng hình như không nặng lắm. Sau cùng, khi đã tìm được chỗ của bọn họ, ông tự kiếm một góc riêng.

 Đương nhiên là những người đồng nát cũ đều nhận thấy sự có mặt của nhân vật mới này trong thị trấn. Họ tò mò muốn biết ông ta mang gì trong cái bao xách theo đó. Ông bảo họ trong đó chẳng có gì ngoài bữa trưa và một cái áo tơi phòng khi mưa gió. Họ liền thắc mắc: “Ý ông là ông không thu mua gì sao? Chẳng phải ông là người đi thu mua phế liệu đó sao?”

 “Ồ, vâng đúng thế”, người đàn ông đáp lời, “tôi đích thị là người thu mua phế phẩm. Nhưng cái mà tôi thu nhặt lại chẳng thể đựng vừa trong bao hay trong hộp. Tôi đi lượm lặt những âu lo, sầu muộn của con người”.

 Đây quả là một ý tưởng lạ lùng với với những người thu mua đồng nát, họ yêu cầu ông giải thích rõ hơn. Người đàn ông tiếp lời: “Thế này nhé, từ lâu rồi tôi nhận thấy, một trong những thứ mà người ta có quá nhiều và thường xuyên phải cố gắng loại bỏ chính là những âu lo, phiền muộn, những thách thức, khổ đau, những thời khắc hoạn nạn, đó là những điều khiến cuộc sống con người thêm trĩu nặng và buồn tủi. Vì thế tôi muốn thu nhặt những phiền muộn này giúp mọi người để họ cảm thấy dễ chịu hơn. Điều đó không khó hiểu lắm phải không?”

 Vài người trong số đồng nát khi đó cho rằng, ý tưởng này của người đàn ông quả là ngu ngốc và biết đâu lại tiềm ẩn nguy cơ chẳng mấy tốt lành cho kế sinh nhai của họ. Thậm chí có người đã tố cáo ông với thanh tra cảnh sát chuyên kiểm soát hoạt động của giới thu mua phế liệu.

Dầu vậy, vì người đàn ông lớn tuổi dường như chẳng làm hại đến ai nên cuối cùng họ lại để ông được yên thân một mình. Tiếp đó, có người lại hỏi ông về cách ông đi lượm lặt những âu lo của người khác. Ông trả lời: “Thế này nhé, nếu ngay lúc này anh có điều gì đó buồn phiền hay lo lắng, anh hãy kể cho tôi nghe đi, tôi sẽ thu lượm nó và cho nó vào kho chứa đồ thu gom của tôi”.

 “Nhưng làm thế nào mà ông giúp tôi được?” người này tiếp tục hỏi. “Làm sao ông có thể giải quyết những rắc rối của tôi chỉ nhờ vào việc tôi kể nó cho ông cơ chứ?”

 “Tất nhiên là không thể rồi,” người đàn ông trả lời, “nhưng làm thế anh sẽ cảm thấy dễ chịu hơn. Hãy thử đi”.

 Thế là người đó kể cho ông già nghe rắc rối của mình. Nghe xong câu chuyện, người đàn ông gật đầu vài lần tỏ vẻ thông cảm sâu sắc, sau đó ông chụm hai tay lại như thể đang xúc đi một thứ gì đó rất nặng. Ông làm ra vẻ như cho thứ vừa xúc được đó vào cái bao vẫn đem theo và hỏi người kia: “Thế đó, tôi đã đem những âu lo của anh đi rồi. Bây giờ anh đã cảm thấy khá hơn chưa?”

Người này trả lời: “Sao thế nhỉ, đúng là tôi đã thấy dễ chịu hơn. Lúc này tôi nghĩ rằng tôi đã có thể giải quyết rắc rối của mình tốt hơn rồi”.

 Câu chuyện lan đi và chẳng mấy chốc đã có rất nhiều người tới chia sẻ với ông già những âu lo, sầu muộn. Chỗ đứng của ông cuối cùng đã là nơi quen thuộc nhất với người dân trong khu bãi.

 Ngày nọ, có một phụ nữ đi vào làng chậm rãi và đầy khó nhọc. Trông chị ta đau khổ tới mức những người trong làng ngay lập tức đưa chị tới chỗ người đàn ông nọ. Sau khi nghe ông nói về công việc của ông, người phụ nữ bắt đầu than thở: “Trời ơi, làm sao ông biết được trên đời này có bao nhiêu nỗi âu lo, sầu muộn. Tôi vừa từ một thành phố tới đây, ở thành phố đó đầy rẫy những đau khổ hơn bất cứ nơi nào khác. Ai ai cũng phải chịu đựng và chẳng ai còn hy vọng gì nữa. Điều tồi tệ nhất là chính những người cầm quyền ở đó lại sống giàu sang, thịnh vượng trên những khốn đốn của người dân. Đó quả là một nơi khủng khiếp và đáng ghê tởm. Tôi đã phải từ bỏ nó. Ra đi là hy vọng cuối cùng của tôi”.

 Người đàn ông lắng nghe rất nghiêm trang, ông đứng dậy nhấc chiếc bao, vẻ chậm chạp và đau đớn hơn bao giờ hết. Hồi lâu im lặng, ông chậm rãi nói: “Tôi phải tới đó”.

 Tuy nhiên dân làng và người phụ nữ hết lời ngăn cản ông. Họ không muốn mất đi người đã giúp họ loại bỏ những âu lo trong cuộc sống. Họ e ngại thành phố đó là công việc quá sức với ông, họ cầu xin ông hãy ở lại.

 Thế là người đàn ông đành phải bỏ trốn lúc nửa đêm vì ông không muốn sự ra đi của mình sẽ khiến những người ông từng giúp đỡ phải phiền lòng.

Sau đó không lâu có một thanh niên vẻ mệt mỏi, buồn bã đi tới khu làng. Không cần hỏi, người dân ở đây cũng biết anh ta từ thành phố đau khổ nọ tới. Họ hết lòng giúp đỡ anh và khi anh đã khá hơn, họ hỏi xem anh ta có biết tin tức gì về người đàn ông đã rời làng đi trước đó vài tuần không.

“Tôi biết ông ấy!”, người thanh niên đáp. “Chẳng phải cả thành phố đã luôn nhắc tới ông ấy hay sao. Các ông không nghe thấy à?”.

 “Không hề” dân làng đồng thanh nói, “anh hãy kể cho chúng tôi nghe đi”.

 Chàng thanh niên bắt đầu câu chuyện: “Ông ấy thầm lặng tới thành phố và thoạt đầu chẳng ai để ý tới ông. Sau đó, cứ mỗi lúc người ta lại thấy ông trò chuyện cùng mọi người, nói là trò chuyện nhưng thực ra chủ yếu là ông nghe mọi người nói. Mỗi khi ai đó nói chuyện với ông xong, ông đều cúi đầu và hai tay ông làm một cử chỉ gì đó nom thật buồn cười, thế là người đó bắt đầu cảm thấy dễ chịu hơn”.

 Đã lâu lắm rồi, lần đầu tiên những người dân trong thành phố được cảm thấy vui vẻ hơn và hy vọng lại dần nhen nhóm trong cuộc sống của họ.

 “Đúng thế, chúng tôi biết điều đó. Ông ấy cũng đã làm như vậy ở đây”, những người làng tiếp lời.

 Thế rồi chẳng bao lâu thì các nhà cầm quyền ở đây phát hiện ra ông ấy. Họ yêu cầu ông phải rời khỏi thành phố và ngừng ngay việc can thiệp vào đời sống người khác. Nhưng ông đã không chịu.

Kể tới đây, đôi mắt chàng thanh niên thoáng buồn và giọng nói đã bắt đầu thổn thức. Anh tiếp tục: “Đầu tiên họ bắt giam ông ấy, nhưng ngay cả khi trong tù ông cũng lại tiếp tục công việc thu góp lo âu của những người tù. Cuối cùng, giới cầm quyền thành phố kết tội ông là mầm mống phản loạn, là nguy cơ với chính quyền của họ và họ đã giết ông ấy”.

Những người dân nín thở. Một vài người thút thít khóc.

 “Tôi rất buồn khi phải nói với các anh về điều này. Ông ấy cũng là bạn của tôi. Ông ấy rất quan tâm tới tôi. Tôi cảm thấy dễ chịu hơn khi được nói cùng các anh mặc dù sự thật đó đều đau đớn với tất thảy chúng ta. Các anh cũng thấy rằng điều này cũng giống như những gì ông ấy đã làm trước khi mất, đó là lắng nghe và thu góp những âu lo của người khác”. Giọng chàng thanh niên nhỏ dần như thể suy nghĩ đó đã phần nào làm vợi bớt những đau thương bên trong.

 Chợt chàng nói to: “Nó sẽ vẫn tiếp tục. Việc thu góp những âu lo của con người vẫn sẽ tiếp tục! Các anh có thể làm điều đó với tôi và tôi làm cho các anh. Ông ấy đã chỉ cho chúng ta cách thức làm việc này!”.

 Chàng thanh niên nhảy lên với đầy phấn khích và mạnh mẽ. “Tôi sẽ quay trở lại thành phố đó!”

 “Nhưng anh sẽ làm gì ở đó?”, rất nhiều người làng cùng hỏi. “Anh sẽ lại phải gánh chịu đau đớn mà thôi. Thành phố đó có quá nhiều buồn phiền, đau khổ”.

 “Đúng thế! Đúng thế!”, chàng thanh niên vẫn nói: “Nhưng đó chính là lý do khiến tôi càng phải đi. Tôi sẽ lại tiếp tục trở thành một người đi gom góp âu lo như ông cụ!”.

 Dương Kim Thoa

Lược dịch theo Leo Remington

Ve chai… một cõi!

Posted: Tháng Mười Một 5, 2011 in Tin của NTGR

Trên chiếc xe đạp cọc cạch, những người đàn bà rời “làng ve chai” từ lúc tang tảng sáng. Mỗi người một ngả, rong ruổi khắp các công viên, khu chợ, công trường, vào tận các khu chung cư, bới móc cả những thùng rác để tìm hoặc mua các loại phế liệu.

Cuối ngày, họ tập trung về các điểm thu mua, bán lại những thứ kiếm được. Chuỗi ngày mưu sinh đầy cực nhọc của những con người lam lũ ấy đã tạo nên bức tranh nhiều màu sắc về cuộc sống người lao động ở vùng ven các đô thị…

“Làng ve chai”

Người của làng ve chai bán sản phẩm tại khu Tân Vạn

Chỉ cách trung tâm Thành phố Hồ Chí Minh khoảng 20 km nhưng khu Long Sơn – Tân Vạn, thuộc địa bàn quận 9, như một thế giới khác. Có một chút gì đó vừa ảm đạm, hiu hắt, lại vừa tất bật, rộn ràng của một bộ phận lớn con người sinh sống nơi đây. Khu dân cư khá đặc biệt này được người dân địa phương gọi bằng cái tên đầy tâm trạng: “Làng ve chai”.

Gọi là “làng”, nhưng thực ra đó là những dãy phòng trọ của các gia đình cho thuê. Qui tụ tại đây có gần 100 con người, phần lớn là phụ nữ. Họ đến từ các tỉnh phía Bắc và miền Trung, nhiều nhất là từ huyện Quỳnh Lưu, Nghệ An.

Chị Hồ Thị Hồng

Bà Hồ Thị Hồng, một trong những người lớn tuổi nhất và có thâm niên làm nghề gom nhặt, mua bán ve chai ở đây kể: Hơn 5 năm trước, trong lúc mùa màng thất bát, đời sống khó khăn, chưa biết tìm cách nào tháo gỡ, thì có một người quen trên thị trấn rủ đi vào miền Nam tìm nghề làm ăn. Thế là bà khăn gói theo người quen lên đường. – “Mình nhà quê, giúp việc cho người thành phố không quen. Đan lát cũng chẳng có tay nghề. Thế là tui mua lại một chiếc xe đạp cũ, rồi theo người ta đi nhặt ve chai. Đi quanh năm, đến Tết hoặc vào dịp mùa màng mới về với chồng con, xong lại vào ngay” – bà Hồng nói.

Mỗi lần về quê, bà Hồng lại dẫn theo một vài người vào đi làm cho vui. Chủ yếu là chị em họ hàng và người cùng xóm. Rồi thì những người đó lại dẫn thêm các thành viên khác theo kiểu dây chuyền. Số người gia nhập đội quân ve chai ngày càng nhiều.

Đến nay, tại “làng ve chai” này, riêng người của xã Quỳnh Yên đã lên đến con số gần 50, toàn là phụ nữ. Họ thuê những căn phòng trọ giản dị nhất với mức giá 500 ngàn đồng/tháng. 12-15 người ở một phòng. Chẳng cần giường phản gì hết, mấy tấm chiếu trải ra là đủ để ngả lưng. Chị em góp gạo thổi cơm chung. Mờ sáng dậy nấu cơm, đem theo một cái cặp lồng cho bữa trưa. Dọc đường, gặp một bãi rau mọc hoang ở bờ kênh, mép ruộng… là đã có thể khiến họ yên tâm về rau cho bữa tối. Còn “chất đạm”? Họ chờ đến gần vãn chợ chiều để mua những mớ cá tạp, những phần thịt cuối cùng trên sạp.

“Chó cắn áo rách!”

Cũng có nhiều khi nước mắt rơi không phải vì hạnh phúc mà vì những cảnh huống quá đỗi éo le. Chị Vũ Thị Oanh kể: Cuối năm ngoái, trong một lần đi mua ve chai ở quận 2, khi đi qua một con hẻm vắng, chị nhìn thấy phía trước có một chiếc hộp nhựa màu đỏ, bên trong là một chiếc nhẫn 2 chỉ vàng chóe. Giữa lúc chị đang luống cuống thì bỗng có một chiếc xe máy đỗ xịch bên cạnh. Trên xe là một thanh niên thanh tú, ăn mặc rất lịch sự. Anh ta nói, đã nhìn thấy cái hộp trước chị, nhưng chị đã có công nhặt lên thì hai người sẽ chia đôi. Khốn khổ! Hơn 1 triệu đồng chị dành dụm 2 tháng trời đã bị lột sạch. Cái nhẫn giả ấy, chị Oanh vẫn còn giữ để làm bài học chung cho mọi người.

Chị Hồ Thị Điệu lại là nạn nhân của kiểu lừa đảo khác. Hôm ấy chị được một người “tốt bụng” gọi vào bán cho mấy tấm đồng cuộn. Loại này rất có giá trị, lãi cao nên chị Điệu hết sức vui mừng. Khi đem đến bán cho điểm thu mua phế liệu, chị mới té ngửa, hóa ra trong lõi của những cuộn đồng kia chỉ toàn… đá. Thế là mất đứt mấy trăm nghìn. Chị Mai Thị Sen đến giờ vẫn chưa hết hãi hùng vì một lần bị bọn nghiện ma túy trấn lột. Ngay cả bà Hồ Thị Hồng, người có nhiều kinh nghiệm nhất trong nghề mà vẫn bị lừa. “Tôi được một người ăn mặc lịch sự mời uống li nước mía. Uống xong vài phút thấy choáng váng mặt mày rồi ngủ thiếp đi. Khi tỉnh dậy thì 2 triệu đồng trong túi đã bị mất. Đúng là “chó cắn áo rách” – Bà Hồng thở dài kể lại “Chú là nhà báo, chúng tôi hỏi thật, đến những người như chúng tôi mà họ còn lừa thì không hiểu cái loại người ấy còn chút gì của lương tri nữa không?”.

“Nhói lòng vì ánh mắt khinh rẻ!”

Làm nghề này vất vả, sao các chị không để ông xã đi thay? Tôi hỏi.
Chị Hồ Thị Điệu xua tay phân bua:
Mỗi ngày kiếm được ba, bốn chục ngàn đồng, nếu không biết cách tiết kiệm thì chẳng đủ nuôi thân,

Chị Mai Thị Sen và kết quả sau 1 ngày làm việc cực nhọc

nói gì đến việc lo cho gia đình. Các ông ấy mà đi làm thì chỉ có nước “ra đi tay trắng, trở về trắng tay” thôi.

Chị Điệu nói rồi phá lên cười. Mọi người họa theo, cười nói rổn rảng, làm cho buổi hoàng hôn ở “làng ve chai” vui nhộn hẳn lên. Trên những gương mặt sạm đen, nụ cười của những người đàn bà ấy vẫn thật đẹp và lạc quan. Trên bức tường ố vàng, bó hoa 8/3 của các chị vẫn được treo giữ một cách trang trọng, dù đã khô quắt lại. Cuốn nhật ký với những câu thơ viết dở tràn đầy xúc cảm. Dường như những bon chen thường nhật đã được gác qua một bên.

Cũng có khi “làng” vui như mở hội, ấy là lúc những người mẹ nhận được tin con vào đại học. Sau những nụ cười rạng rỡ với bữa “khao” nhẹ, là những dòng nước mắt. Những người đàn bà khóc vì sung sướng, hạnh phúc. Rạc bước mưu sinh nơi đất khách quê người lo cho con ăn học, đến ngày có được tiếng thơm, còn gì sung sướng bằng.

Tuy nhiên, phía sau đó cũng không ít những phiền toái. Bà Nguyễn Thị Nga, nhà ở đường Nơ Trang Long, quận Bình Thạnh cho biết: Bà rất “dị ứng” với những người đi mua ve chai. Có lần bà gọi một người mua ve chai vào bán báo cũ, khi chị ta đi thì 2 cái điều khiển của ti vi, máy lạnh cũng “bốc hơi”. Hiện tượng gia chủ bị mất điện thoại di động và các loại vật dụng khác trong các trường hợp tương tự xảy ra khá nhiều.

Khi tôi đem chuyện này kể cho người của “làng ve chai” nghe, các bà, các chị lắc đầu:

Ở đâu chứ chúng tôi tuyệt nhiên không làm cái trò ấy. Mình làm ăn lâu dài, có phải đến một lần rồi đi luôn đâu mà cả gan làm chuyện bậy bạ đó. Chúng tôi sống “đói cho sạch, rách cho thơm” để phúc cho con cháu. Có nhiều trường hợp bọn lưu manh đóng giả người đi mua ve chai để trộm cắp nên chúng tôi bị tiếng oan. Nhiều lúc bắt gặp những ánh mắt khinh rẻ, chúng tôi thấy đau nhói lòng.

Hàng ngày ra đường, đi đâu chúng ta cũng bắt gặp bóng dáng của những người phụ nữ tần tảo với chiếc xe đạp lỉnh kỉnh những bao, bì, rong ruổi trên từng cây số. Sự có mặt của họ đã góp phần tích cực vào việc làm sạch môi trường, giúp người đô thị giải quyết nhanh, gọn những loại vật dụng quá đát, hư hỏng trong nhà. Thế nhưng, nghề ve chai gắn với thân phận của những con người nghèo khổ, học vấn thấp, cho nên không ít người nhìn họ bằng ánh mắt coi thường…

Chia sẻ với “Làng ve chai” bằng bài viết này, tôi càng thấu hiểu rằng mỗi nghề đều có những khó khăn, vất vả và niềm vinh quang riêng…

Thanh Kim Tùng

Tin sưu tầm: Việt Báo ( theo Vietnam Net) ngày 24/4/2007

Làng… phế liệu Phan Bôi

Posted: Tháng Mười Một 5, 2011 in Tin của NTGR

Nhờ sự năng động, dám nghĩ, dám làm, mấy năm gần đây người dân thôn Phan Bôi, xã Dị Sử, huyện Mỹ Hào đã làm thay đổi hẳn bộ mặt đời sống của một làng quê nghèo khó, được công nhận là làng nghề, làng… phế liệu.

Làm giàu từ… phế liệu

Một anh xe ôm dẫn đường cho hay: “Làng này, giờ giàu có lắm. Tôi đâu có ngờ rằng người ta lại có thể làm giàu nhanh chóng từ… đồng nát”. Hơn cây số đi dọc quốc lộ 5 qua thôn Phan Bôi, chúng tôi đều không khỏi ngỡ ngàng trước những ngôi nhà cao tầng san sát nhau. Vào tận các ngõ trong làng nghề cũng nhiều nhà cao tầng, chứng tỏ sự “ăn nên làm ra” của người dân nơi đây từ khi chọn được nghề phù hợp.

Nghề thu gom “ve chai” có từ lâu. Lúc đầu chỉ là một vài cơ sở đồng nát từ những người đi ve chai. Dần dần, thấy công việc cũng nhàn mà đem lại hiệu quả cao hơn làm ruộng, nhiều cơ sở, đại lí thu gom phế liệu mới xuất hiện, quy mô lớn hơn, thành “phong trào”. “Gia đình tôi chỉ mới vào nghề được mấy năm nay. So với những những đại lí trong làng thì tôi chỉ là “cò con”, anh Chương, chủ một cơ sở cho biết như vậy. Mỗi tuần một chuyến hàng, việc giao nhận hàng cũng do anh phải tự lo lấy. Thôn Phan Bôi có hơn 700 hộ dân thì hơn một trăm gia đình tự mua máy xay nhựa để chế nguyên liệu, gần trăm hộ có xe ô tô tải từ 6 tấn trở lên,thu nhập bình quân đầu người đạt 10 triệu đồng/năm. Việc tìm nguồn hàng đầu vào cũng như đầu ra rất quan trọng, quyết định sự tồn tại của nghề. Để có hàng, người dân Phan Bôi phải lặn lội về: Thanh Hóa, Ninh Bình, Phủ Lý, Hải Phòng, Thái Bình, Hà Tây… để thu gom. Chủ yếu là đồ nhựa, từ nilông, nhựa cứng đến các vật dụng từ nhựa. Sau khi phân loại,nhựa được cho vào máy xay nhỏ,rửa sạch trong một bể nước rồi mới đem ra phơi khô chờ xuất hàng. Giá mỗi tấn nhựa sau khi sơ chế cũng khoảng 10 triệu đồng.

Anh Tuấn, chủ một đại lí có tiếng trong làng cho biết: “Nghề này kiếm được tiền nhưng cũng vất vả lắm. Lãi nhiều hay ít ngoài việc do giá, cũng còn tùy thuộc vào lượng hàng nhập về.

Tháng nào không có hàng thì coi như tháng ấy… thất nghiệp”. Cơ sở của anh Tuấn có khoảng gần 20 lao động làm thuê, phần lớn là lao động thời vụ. Nhiều người nhờ làm thuê ở đây mà nuôi được con vào đại học. Ông Dư Tân Việt, 58 tuổi, có thâm niên làm thuê như thế gần chục năm cho hay: “Công việc không nặng nhọc nhưng phải luôn chân, luôn tay. Nhiều khi hàng cần giao đúng hợp đồng, chúng tôi phải làm tăng ca. Không biết làm lâu, tiếp xúc nhiều với nhựa hàng ngày thế này có ảnh hưởng gì đến sức khỏe không, nhưng vì miếng cơm manh áo mà đành tặc lưỡi chấp nhận”.

Nỗi lo từ làng nghề

Chia tay làng nghề… phế liệu, chúng tôi vẫn còn ngửi thấy mùi khét lẹt của nhựa. Những chuyến xe tải chở đầy hàng vẫn không ngừng chạy về. “Việc đem lại hiệu quả kinh tế, nâng cao mức sống người dân từ việc tái chế nhựa là không có gì đáng nói. Nhưng, chúng tôi thấy rằng việc tiếp xúc, rồi chế biến nhựa hàng ngày không có một chế độ bảo hộ lao động là rất có hại. Đặc biệt là rác với nước thải từ nhựa không được thu gom, xử lí, người dân “vô tư” thải ra ngoài mương máng, đồng ruộng liền kề. Rồi người dân sớm muộn gì cũng sẽ phải gánh chịu những hậu quả ô nhiễm môi trường!” – Bác Tuấn, trưởng thôn Phan Bôi nói vậy

Nguyễn Thành Luân

Tin sưu tầm: Báo người cao tuổi 27/3/2008

Trần Hoàng Mai, học sinh lớp 12D1 trường THPT chuyên Lê Quý Đôn, Đà Nẵng theo chân những người mua bán phế liệu rong để tìm hiểu về công việc của họ và vỡ ra được nhiều điều.

Đó cũng chính là thời điểm mà Mai quyết định xây dựng nên giải pháp: Quản lý chất thải rắn – thu mua, phân loại, xử lý chất thải rắn thông qua những người thu mua phế liệu. Và thật bất ngờ, khi mang sản phẩm này dự thi tại cuộc thi “Thanh – Thiếu niên – Nhi đồng với TP Đà Nẵng Xanh – Sạch – Đẹp” do Thành Đoàn, Sở GD-ĐT, Liên hiệp các hội Khoa học và kỹ thuật và Sở Tài nguyên – Môi trường TP Đà Nẵng phối hợp tổ chức, Mai giành được giải nhất.

Mai nhận thấy những bất cập trong thu mua, xử lý những rác thải, phế phẩm. Đặc biệt là những thiệt thòi cho những người làm nghề thu mua ve chai. Trong khi họ chính là một đầu mối lớn nhất trong việc thu gom, phân loại phế liệu. Họ làm công việc ở môi trường độc hại mà không có bảo hiểm, thu nhập lại quá bấp bênh. Họ không bán được phế liệu cho các công ty sản xuất mà phải qua nhiều trung gian, nên thu nhập rất thấp. Chưa kể những chất thải rắn có thể tái chế nhưng do không được huấn luyện kỹ, họ đã làm hư hỏng không thể tái sử dụng để sản xuất…

Mai quả quyết, với giải pháp của mình, không chỉ môi trường được bảo vệ, mà những người thu gom ve chai còn có cơ hội được hưởng những quyền lợi mà họ đáng được hưởng từ công việc quan trọng của mình.

Mai trình bày kế hoạch: Em sẽ mở một công ty, mà nhân viên chính là những người thu mua ve chai. Họ sẽ được hưởng lương, được mua bảo hiểm, được huấn luyện trước khi làm nghề. Những phế phẩm thu mua về sẽ được chính họ phân loại.

Đầu ra của sản phẩm mỹ nghệ từ hàng tái chế sẽ được tuyên truyền rộng rãi về ý nghĩa của nó. “Em sẽ tổ chức những cuộc thi làm hàng mỹ nghệ từ phế phẩm vừa mang ý nghĩa tuyên truyền cộng đồng bảo vệ môi trường, vừa tìm ra những sản phẩm ưng ý nhất! Biết đâu hàng mỹ nghệ của em sẽ được xuất khẩu sang các nước vì tính độc đáo của nó”, Mai nói, “Trước mắt, em mong dự án của mình được TP quan tâm, và đầu tư, bởi tính khả thi của giải pháp này là rất thiết thực”…

D.H

Tin sưu tầm : thanhnien online ngày 10/4/2011

Hôm qua 6.6, một nhóm người mua ve chai khoảng hơn 30 người (quê ở các tỉnh Bắc Ninh, Nam Định, Quảng Ngãi…) hiện tạm trú tại phường Hiệp Tân, Q.Tân Phú (TP.HCM) đã tình nguyện nghỉ một buổi đi mua ve chai để đến văn phòng Trung tâm nhân đạo Quê Hương (17/15/11A Gò Dầu, P.Tân Quý, Q.Tân Phú, TP.HCM) chăm sóc trẻ sơ sinh mồ côi khuyết tật đang được nuôi dưỡng tại đây.

Các chị đã tình nguyện đóng góp một ít tiền nhỏ nhoi của mình và thành lập Quỹ “Những người mua ve chai” để góp phần giúp đỡ các em. Trung tâm Nhân đạo Quê Hương đang nuôi dạy hơn 200 trẻ em mồ côi, khuyết tật và rất cần sự chung tay, giúp đỡ của nhiều người.

Lê Thanh

Tin sưu tầm từ Việt Báo 7/6/2007